Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2013

Du lịch Tây Nam Bộ mùa Ok Om Bok

Lễ Ok Om Bok còn gọi là lễ Cúng Trăng hay “Đút cốm dẹp" của dân tộc Khmer Nam Bộ, được tổ chức vào ngày 14 và 15 tháng 10 âm lịch hàng năm.

Đây là lễ hội tưng bừng nhất và được chờ đợi nhiều nhất trong năm. Đối với người Khmer, mặt trăng được xem như một vị thần điều tiết mùa màng, giúp họ làm ăn khá giả trong năm nên trong ngày này mọi nhà đều tham gia lễ Cúng Trăng. Lễ hội thường diễn ra tại Trà Vinh và Sóc Trăng, nơi đông bà con dân tộc người Khmer.

Lễ vật cúng trăng

Người Khmer lấy lúa nếp quết thành cốm dẹp cùng các hoa màu khác để làm lễ vật cúng trăng. Ngoài ra còn có các loại sản vật nông nghiệp có tinh bột (khoai lang, khoai môn, sắn), hoa trái (dừa, chuối, bưởi, cam...), bánh kẹo.

Dựng cổng tre, trúc

Trước tiên, người Khmer làm một cái cổng hoa lá với 2 cây tre, trúc làm trụ và lá dừa làm vòm ngang. Trên đó, người ta giăng một dây trầu 12 lá được cuốn tròn tượng trưng cho 12 tháng trong năm và một dây cau 7 trái được chẻ vỏ ra như hai cánh con ong, tượng trưng cho 7 ngày trong tuần. Dưới cổng trúc, các lễ vật được đặt ngay ngắn để tỏ lòng thành kính dâng tới thần Mặt Trăng.

Nghi lễ

Lễ cúng trăng được tổ chức hầu hết ở các phum, sóc.
Vào đêm 14 trăng tròn hoặc 15 khi trăng lên cao, người người lại tập trung ở sân chùa hoặc sân nhà, hướng về phía mặt trăng để làm lễ. Lễ có sự tham gia của cả người cao tuổi và trẻ nhỏ.

Người cao tuổi nhất trong phum, sóc (làng, xóm) hoặc trong nhà sẽ được mời để làm lễ. Chủ lễ khấn vái bày tỏ lòng biết ơn của con người đối với thần Mặt Trăng, xin thần Mặt Trăng tiếp nhận lễ vật và ban cho mọi người sức khỏe, mùa màng tươi tốt.

Các em nhỏ, sau khi cúng, sẽ được chủ lễ đút cốm dẹp và một ít thức ăn khác vào miệng, đồng thời cũng được vỗ nhẹ vào lưng và hỏi về những mong muốn của mình. Các ước muốn của mầm non sẽ là niềm tin và động lực cho người lớn vào năm tới. Sau đó, tất cả cùng quây quần thưởng thức lễ vật, ca hát, vui chơi.

Hội đua ghe Ngo


Theo phong tục cổ truyền của người Khmer, sau lễ Cúng Trăng là tục đua ghe ngo. Đây là nghi thức truyền thống tiễn đưa thần nước, sau mùa gieo trồng về với biển cả, cũng là nghi thức tôn giáo tưởng nhớ rằng thần rắn Nagar xưa biến thành khúc gỗ để đưa Phật qua sông.

Ghe Ngo dài khoảng 22-24 m, ngang 1,2 m, có từ 50 đến 60 tay bơi. Ngày nay, do không còn thân gỗ độc mộc lớn để làm nên ghe Ngo được đóng bằng nhiều tấm ván dài ghép lại với nhau. Mũi và lái của ghe đều cong, thân được trang trí hoa văn sặc sỡ, đầu ghe có hình con thú biểu trưng cho ghe của mình. Dưới lườn ghe người ta đặt một cây dài từ đầu đến cuối thân ghe gọi là cây cần câu (đonxanh tuôk) nhằm giữ thăng bằng và làm cho ghe vọt khi bơi.

Thông thường, các đội ghe tham dự sẽ được chia thành 2 nhóm: nhóm đã được xếp hạng từ mùa giải trước và các nhóm còn lại. Cùng với tiếng cồng chiêng, hát, hò, đua ghe ngo trở thành một sự kiện văn hóa, thể thao mang tính truyền thống của người dân Khmer.

Thả đèn nước

Thả đèn nước.
Chiếc đèn được làm bằng thân và bẹ chuối, có cấu tạo như ngôi đền, trang trí hoa văn màu sắc sặc sỡ. Đầu đèn có treo cờ phướn, xung quanh cắm đèn cầy và nhang, bên trong có bày các thức cúng.

Theo truyền thuyết đèn nước tượng trưng cho dấu chân còn lưu lại của Đức Phật bên bờ hồ Namătea để độ chúng sinh hoặc còn để tưởng nhớ một cái răng của Phật được vua loài rắn Neaka Reach cất giữ. Vì thế ý nghĩa của việc thả đèn nước là để tụng kinh tưởng nhớ đức Phật, đồng thời xin lỗi thần Đất, thần Nước vì làm ô uế, dơ bẩn nguồn nước, đào xới đất nơi đây.

Ngoài ra trong lễ hội còn có nhiều hoạt động văn hóa khác như cờ ốc, bi sắt, múa Răm Vông. Đến các tỉnh miền Tây Nam Bộ mùa Ok Om Bok, chắc chắn du khách sẽ có ấn tượng khó phai về một mùa lễ hội lung linh và náo nhiệt.

Kiến trúc nhà vườn Huế

Nhà vườn Huế không chỉ tạo nên sự gần gũi với thiên nhiên cây cỏ mà còn thể hiện nét văn hoá đặc sắc trong phong cách sống của người dân cố đô.

Từ trong cung ra ngoài nội có đến hàng nghìn khu vườn lớn nhỏ được hình thành và lưu giữ qua hàng trăm năm nay. Mỗi khu vườn gắn với một công trình kiến trúc riêng biệt, tạo nên hệ thống nhà vườn đặc sắc ở Huế.

Vườn cung

Vườn cung là nơi vua, hoàng tộc dạo chơi, thưởng lãm những khi nhàn rỗi, thứ dân không mấy ai được đặt chân đến. Vì thế cấu trúc vườn cung vừa thể hiện sự tự nhiên thanh thoát của cây, hoa, lá vừa phải toát lên sự sang trọng vương giả của các bậc đế vương như, vườn Ngự Viên, vườn Thiệu Phương, vườn Thường Mậu… Ngày nay hệ thống vườn cung không còn nữa, mà chỉ là những hoài niệm dấu tích xưa.

Vườn lăng

Kiến trúc vườn lăng ở lăng Minh Mạng.
Nếu vườn cung là nơi để tận hưởng tìm vui thú trần gian, thì vườn lăng là nơi để hoài niệm vọng tưởng. Ở Huế hiện nay gần như còn giữ được phần nào dáng xưa ở các lăng Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Khải Định... Đây cũng là hệ thống vườn thể hiện rõ nét nhất mô típ kết cấu nhà vườn truyền thống Huế.

Lăng tẩm của các vua Nguyễn đều được xây cất trước khi băng hà khá lâu, nên quá trình xây dựng được tính toán chi ly cẩn thận từ cấu trúc, kiểu dáng công trình đến hệ thống vườn tược rất cân đối hài hoà. Hàng trăm năm nay giữa thâm u của rêu phong lăng mộ, cây vườn vẫn đơm hoa kết trái như chỉ có sinh mà không có lão, bệnh, tử.

Vườn nhà

Không cầu kỳ vương giả như vườn cung vườn lăng, vườn nhà Huế đơn giản nhưng không kém phần tao nhã sang trọng. Vườn nhà thường được rào chắn bằng một hàng chè tàu hay dâm bụt được cắt xén cẩn thận. Kiến trúc chính trong vườn là ngôi nhà rường bằng gổ được chạm trổ tỉ mỉ, trang trí công phu làm nơi thờ tụ gia tiên, bên cạnh là nhà phụ làm nơi ở cho các thành viên trong gia đình. Không gian còn lại là vườn cây, bể cá, hòn non mộ... Diện tích mỗi nhà vườn Huế thường từ 1.000 m2 đến 15.000 m2 với rất nhiều loại cây trái mang hương vị của cả hai miền Nam, Bắc như hồng nhung, nhãn, măng cụt, xoài, thanh trà, cam, quýt...
Nhà vườn An Hiên là địa danh du lịch nổi tiếng ở Huế.
Ngoài giá trị kinh tế thường ngày, vườn Huế còn là nơi để chủ nhân ngắm hoa thưởng quả vui thú điền viên sau những lo toan cơm áo hàng ngày. Theo con số thống kê mới đây, Huế hiện còn lưu giữ được 2.800 ngôi nhà vườn lớn nhỏ trong đó có hơn 1.000 ngôi nhà vườn trên 200 năm tuổi, tập trung ở các phường Phú Xuân, An cựu, Vỹ Dạ, Tây Lộc, Thuận Thành...

Nhiều ngôi nhà vườn đã trở thành những địa chỉ du lịch đặc sắc như vườn An Hiên, Tịch Lạc Viên và hệ thống nhà vườn ở Phú Mộng - Kim Long. Hệ thống nhà vườn Huế đã làm nên chiếc cầu nối giao thoa hài hoà giữa thiên nhiên và con người, làm nên nét riêng biệt trong văn hoá kiến trúc đô thị ở Việt Nam.

Vườn chùa

Huế là trung tâm Phật giáo của Miền Trung, Huế có hơn 130 ngôi chùa, niệm phật đường lớn nhỏ, trong đó có những ngôi tổ đình, cổ tự danh tiếng lâu đời như Từ Đàm, Thiên Mụ, Từ Hiếu, Bảo Quốc, Huyền Không, Trà Am, Vạn Phước...
Không gian xanh mát ở chùa Thiên Mụ.
Kiến trúc chốn thiền môn đã hoà quyện vào văn hoá - kiến trúc nhà vườn Huế. Vì thế, chùa nào ở Huế cũng được xây cất trong những khu vườn rợp bóng cây hoa trái. Vườn chùa không chỉ là nơi lộc phật cho muôn sinh mà còn là nơi cảm quan chiêm ngẫm lẽ nhân quả ở đời. Vườn chùa thấm đượm triết lý nhà Phật xanh tươi mà thoáng đãng như là nơi rũ bỏ những lo toan phiền muộn hàng ngày.

Tuy mỗi kiểu vườn có những nét đặc trưng riêng về mục đích xây dựng, không gian thể hiện... nhưng đều nằm trong sự nhất quán của lối kiến trúc Nhà vườn truyền thống Huế và đã thực sự trở thành nét văn hoá đặc trưng riêng trong kiến trúc đô thị hiện nay. 

Đêm rằm trên bến Thung Nai

Cuối tuần, sau buổi làm việc sáng thứ bảy, vài người bạn rủ nhau đến với 'Hạ Long trên cạn' nằm ngay gần thành phố Hòa Bình để nghỉ ngơi.

Từ Hà Nội đến với thành phố Hòa Bình không khó khăn chút nào vì quốc lộ 6 đã được làm đẹp đẽ. Sau gần hai tiếng chạy trên đường, ghé thăm đập thuỷ điện sông Đà nằm sát thành phố, chạy tiếp khoảng 5 km thì rời đường lớn rẽ vào một con lộ nhỏ. Đường vào Thung Nai đi lối cảng Bình Thanh, bám dọc theo sông Đà rộng lớn, uốn lượn lên xuống dọc theo núi cho đến trung tâm xã là hết đường bộ, tại đây có một bến thuyền khá to.
Thung nai được ví là "Hạ Long trên cạn" với khung cảnh sông nước hữu tình.
Thung Nai, Đà Bắc vốn là một xã trong lòng hồ sông Đà, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình, từ lâu đã được coi là điểm đến ưa thích của nhiều bạn trẻ. Đến với Thung Nai để được ngắm cảnh sắc đêm lung linh giữa sông Đà lộng gió là một lựa chọn hợp lý cho ngày cuối tuần.

Từ trên cao nhìn xuống, sông Đà bị ngăn dòng làm thuỷ điện, nước dâng lên ngập các thung lũng, những đỉnh núi cao trước đây giờ biến thành đảo nhỏ, nhấp nhô trên mặt hồ xanh ngắt. Trong khung cảnh hoàng hôn đang dần buông xa xa, cả lòng hồ biến thành một màu tím huyền ảo. Những tia nắng cuối ngày phản chiếu ánh chói lọi xuống lòng hồ như một tấm gương phẳng lặng, vài ba chiếc thuyền rẽ sóng khiến khung cảnh càng trở nên lãng mạn. Bến Thung Nai nhỏ hơn bến Bình Thanh.

Sương đêm khe khẽ hạ bức màn mỏng trên khắp bến nước, con đò và đâu đó đã thoáng thấy ánh trăng mỏng manh ló sau rặng núi xa xăm. Con thuyền nhỏ rẽ sóng đưa ta đến với xã Thung Nai nhỏ nhắn nằm bên sông Đà thơ mộng.

Trên đảo rải rác bên sườn núi, vài ba ngôi nhà của người Mường nằm khuất sau những rặng cây xanh. Ngôi nhà nghỉ mang tên Cối Xay Gió nằm trên đồi. Trong những ngày thấp nước, để lên đến chân Cối Xay Gió, phải leo qua hàng trăm bậc thang mới tới nơi.

Cá thiểu nướng, đặc sản không thể bỏ qua khi đến Thung Nai.
Đêm rằm, ánh trăng bàng bạc chiếu sáng mặt hồ, tạo nên khung cảnh lung linh huyền ảo. Vài chiếc thuyền tách bến buông cần, thanh tao, nhàn nhã. Thuê một chiếc thuyền nhỏ chạy giữa lòng hồ, giữa thinh không vắng lặng, giữa ánh trăng dát bạc, thong thả nhấm nháp chút rượu lạt với món cá chua đậm đà hay con cá ngạnh nướng thơm phức vừa câu dưới hồ lên.

Câu chuyện thưa nhặt, tiếng con cá quẫy nước đủ làm cả không gian yên tĩnh ấy giật mình và ánh trăng vằng vặc bỗng chốc tan lẫn trong lòng hồ phẳng lặng. Người Mường có tục, cá nướng chín rồi ai là chủ cuộc vui sẽ khai mào bằng việc ăn bong bóng cá, rồi sau đó người khác mới được ăn. Sương đêm giăng mắc, trăng đêm mờ tỏ, mặt hồ mong manh sương khói, thấp thoáng bồng bềnh những núi đồi khiến người ta có cảm giác mình đang trôi giữa chốn bồng lai.

Chợ nổi Thác Bờ họp phiên chủ nhật cách nhà nghỉ Cối Xay Gió chừng 20 phút đi thuyền. Không quá ồn ã tấp nập, chợ là nơi thông thương của các ghe thuyền trên khắp mặt hồ về đây. Người ta mang đến những sản vật được đánh bắt từ đêm hôm trước. 

Từ chợ nổi Thác Bờ đi lên bản Sông, đền thờ Thác Bờ linh thiêng và được khách thập phương ghé qua với hoạt động tâm linh độc đáo là các cuộc hầu đồng nằm ở cuối bản. Dưới chân đền Thác Bờ là các bè nuôi cá. Cách đền độ một giờ đi thuyền có bản Ngòi Hoa, một bản người Mường hoang sơ. Một đảo nhỏ khác mang tên đảo Quạ vì đây là điểm đàn quạ hay dừng chân.

Khung cảnh tĩnh mịch của miền sông nước.
Nên thơ và dịu dàng, khoáng đạt và lãng mạn là những gì người ta nhớ về Thung Nai.

Thăm đảo Langkawi - Hòn ngọc thiên nhiên của Malaysia

Quần đảo Langkawi, Malaysia được tôn vinh là một trong những công viên địa chất của UNESCO.

Nằm gần biên giới với Thái Lan, trên biển Andaman, Langkawi cũng là tên của hòn đảo chính trong 99 hòn đảo thuộc quần đảo cùng tên. Với địa thế đẹp, cảnh quan thiên nhiên đa dạng, Langkawi dần dần trở thành điểm du lịch được yêu thích của du khách khi tới Đông Nam Á.

Theo truyền thuyết, năm 1819, trên đảo, có một người phụ nữ xinh đẹp tên là Mahsuri bị xử tử vì tội ngoại tình. Trước khi bị hành quyết, Mahsuri đã nguyền rủa hòn đảo này: “Sẽ không còn bình yên và thịnh vượng trên hòn đảo này trong 7 thế hệ tới”.


Không biết lời nguyền đó có ứng nghiệm không. Chỉ biết rằng 2 năm sau, Langkawi bị người Thái xâm lược và rất nhiều dân địa phương đã chết đói.

Tới giữa những năm 1980, chính quyền Langkawi mới tuyên bố miễn thuế cho du khách, biến nơi đây thành một trong những thiên đường du lịch, cũng là một cách để giải lời nguyền về sự suy tàn năm nào.


Đảo Langkawi lập tức phát triển rất nhanh với các khu resort cao cấp rải rác trên bờ cát và cả một sân bay quốc tế vào năm 2003, khiến việc giao thông, du lịch tới đây trở nên dễ dàng hơn nhiều.

Theo một báo cáo vào tháng 6, năm nay, hòn đảo có khả năng sẽ thu hút được tới 3 triệu lượt khách du lịch.

Để đảm bảo Langkawi không bị đô thị hóa quá nhanh hay đi chệch quỹ đạo, UNESCO đã công bố nơi đây là công viên địa chất của thế giới. Việc làm này giúp bảo tồn hệ sinh thái đa dạng trên diện tích 475km vuông của đảo chính.

Khu công viên địa chất Dayang Buting Marble, nơi có hồ Trinh Nữ Thụ Thai là điểm đến nổi tiếng nhất ở đảo Langkawi. Theo truyền thuyết, một nữ thần đã sinh non và phải chôn con trai của mình ở hồ nước này. Vì vậy, nước trong hồ được coi là có khả năng chữa trị bệnh vô sinh, hiếm muộn ở phụ nữ.


Cũng trong khu công viên này, có dãy núi Machinchang xanh ngắt, nơi du khách có thể tham gia tour leo núi hoặc khám phá bằng đường dây cáp treo. Tại đỉnh núi, còn có một cầu đi bộ trên không, lơ lửng ở độ cao 100 mét, cho du khách tầm nhìn bao quát toàn bộ khung cảnh bên dưới.


Ngoài ra, tới đảo Langkawi, bạn còn có thể tham gia các tour khám phá khu rừng ngập mặn, bao gồm các hoạt động thú vị như cho đại bàng ăn, ngắm chim trời, rắn, khỉ… và những loài cây ngập trong nước.


Từ đảo chính Langkawi, bạn có thể dễ dàng “nhảy” sang các hòn đảo lân cận thuộc quần đảo, nổi tiếng nhất là Pulau Singa Besar hay Pulau Dayang Bunting với các bờ biển tuyệt đẹp và cảnh quan thiên nhiên ấn tượng.


Đặc biệt ở Pulau Payar, công viên hải dương học của quần đảo, cách đảo chính 30 km về phía Nam, du khách có thể tham gia bộ môn lặn biển, ngắm san hô và các loài thủy sinh độc đáo nơi đây.


Một bước chân qua hai đại dương

Tôi bước vào quầy bar, nghiễm nhiên chống một cùi chỏ lên và mỉm cười tự hào, bởi tôi vừa vượt qua hai đại dương chỉ sau một bước chân.

Cape Town, cái tên với tôi còn rất xa lạ trước năm 2008 và chỉ được biết sau khi trò chuyện với người bạn học đến từ Nam Phi. Thú thật là khi ấy tôi còn tưởng nhầm là cậu ta nói mình ở thủ đô (Capital) chứ chẳng phải thành phố nằm mãi tận cực Nam “lục địa đen”.

Phải mất 2 năm sau tôi mới có cơ hội đặt chân lên mảnh đất Cape Town nhờ một dịp may mắn. Thành phố đón kẻ lữ hành bằng thời tiết không thể tốt lành hơn với một ngày có đến 4 mùa, sáng nắng ấm như xuân, trưa nóng, chiều mát hệt thu và tối ra đường phải khoác áo lạnh. Mọi người đến Cape Town để thăm núi Cái Bàn (Table Mountain) có hình dáng rất đặc biệt, để chơi đùa với lũ đà điểu Emu trong trang trại, để thăm những ruộng nho trải dài tít tắp và tất nhiên không thể thiếu chuyến đi đến Mũi Hảo Vọng, mũi thần tiên trên trái đất.
Mũi Hảo Vọng vươn mình ra ngoài khơi giữa Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương.
Mũi Hảo Vọng có tên tiếng Anh là Cape of Good Hope. Mỏm đất kỳ diệu kia nằm cách trung tâm Cape Town 64 km, cung đường phần lớn chạy dọc ven biển đẹp và lãng mạn đến lạ lùng. Sáng sớm, đỉnh Sư Tử thuộc núi bàn không có sương, theo những ngư dân bản địa thì dấu hiệu này có nghĩa là hôm nay trời nắng.

Nam Phi quả là thiên đường cho các loài động vật hoang dã. Trước khi đến khu vực Mũi Hảo Vọng, con tàu có cửa sổ kính bên mạn rẽ sóng đưa du khách dạo một vòng vịnh nơi những chú hải cẩu đang thư thả nô đùa trong làn nước lạnh. Trên những tảng đá nhỏ nằm chơi vơi giữa biển, hàng trăm thân hình béo tròn chen nhau chiếm lấy một chỗ phơi mình, thi thoảng lại vang lên tiếng kêu réo rắt gọi bạn tình hay gầm gừ ra oai.
Bờ biển hoang sơ ngay dưới chân Mũi Hảo Vọng.
Những chú mòng biển trở lại bờ để tiếp tục rong ruổi trên con đường độc đạo dẫn đến cực Nam Cape Town. Những bông fynbos, loài hoa đặc trưng của vùng rực rỡ khoe sắc khắp khu công viên quốc gia. Chạm tới Mũi Hảo Vọng, cảm giác hồi hộp lan toả trong tôi khi sẽ sớm được nhìn thấy mũi đất kỳ diệu vốn chỉ được đọc trong các quyển sách về địa lý và những chuyến hải hành vĩ đại của các nhà khám phá.

Mũi Hảo Vọng thật ra cũng không phải là mũi cực Nam của lục địa châu Phi, điểm chính xác cách đó 150 km về phía đông - Mũi Agulhas. Nhưng tại sao người ta lại phải đến tận nơi đây, vùng đất khắc nghiệt quanh năm vốn chỉ có nắng, gió và biển cả này? Đơn giản vì Cape of Good Hope được xem là nơi giao hòa của hai dòng đại dương Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương.

Chuyến đi đầu tiên vòng quanh Mũi Hảo Vọng ghi dấu ấn của nhà hàng hải Bartholomeu Dias người Bồ Đào Nha khi ông quyết định tìm kiếm con đường xuống cực nam châu Phi và sang Ấn Độ Dương năm 1488 (nhiều tài liệu ghi 1486). Ông đã gọi mũi đất này là Cabo das Tormentas – Mũi đất của những cơn bão nhưng sau đó được đổi thành Mũi Hảo Vọng theo lời khuyên của đức vua John II xứ Bồ Đào Nha. Vài nguồn thông tin khác ghi rằng cái tên đó là do Dias tự đổi.

Với tôi ai nghĩ ra cái tên này không quan trọng bằng chính ý nghĩa của nó. Thế kỷ 15, khi mà những con tàu chưa có hệ thống định vị hiện đại, chưa có máy cơ khí nhưng con người nhỏ bé đã dám đóng thuyền vượt biển lớn để rồi đối diện với những hiểm nguy, vững vàng vượt qua nó. Mũi Hảo Vọng – Cape of Good Hope chất chứa đầy những niềm tin, sự lạc quan và hy vọng của các thủy thủ thời xa xưa nhất là khi mũi đất này thường xuyên có dông bão rình rập.

Góc nhìn trọn vẹn Mũi Hảo Vọng nằm tại Cape Point (Điểm Mũi) nơi tọa lạc ngọn hải đăng cổ. Từ xa xa, mỏm đất nhỏ xíu nhô ra ngoài đại dương xanh không hoành tráng và kỳ vĩ như mọi người vẫn tưởng. Phải, đó chỉ là một khối đất đá trơ trọi nhưng nó đánh dấu một ý niệm thú vị - nơi một bước chân qua hai đại dương.
Ngọn hải đăng cổ trên đỉnh Cape Point.
Chiếc xe lại rong ruổi đưa mọi người xuống đến sát mặt biển nơi đề dòng chữ “Cape of Good Hope, The most South Western point of the African continent – Mũi Hảo Vọng, điểm cực Tây Nam của lục địa Châu Phi” cùng toạ độ 180 28’ 26” East, 340 21’ 25” South. Ai cũng muốn có một bức ảnh bên cạnh tấm bảng còn tôi mải mê tiến thẳng ra bờ biển. Chỉ có vài chú mòng biển là trông có vẻ ung dung tự tại trước làn gió mạnh đang thổi vào bờ cuốn theo những con sóng trắng xóa.

Nhúng tay xuống làn nước biển mát lạnh, tôi hứng chút nước vào vỏ chai nhựa rồi bỏ thêm một nhúm cát. Thế là đã có một món quà đặc biệt mang về cùng với câu chuyện thú vị của người đồng nghiệp mà tôi không bao giờ quên: “Ngày xưa, các thủy thủ dũng mãnh luôn đương đầu với những thử thách đi hết từ vùng biển này đến đại dương kia. Trên trái đất có 2 điểm cực Nam, một ở Nam Phi là Mũi Hảo Vọng, nơi còn lại là Mũi Sừng tại Chile. Nếu bạn thấy chàng thủy thủ nào ngồi lên quầy bar chống hai cùi chỏ một cách tự hào, có nghĩa là anh ấy từng vượt qua hai điểm mũi gian nguy này”.

Tuy không có cơ hội trở thành người thủy thủ oai phong như trong lịch sử hàng hải, nhưng ở một góc độ thi vị nào đó của cuộc sống, tôi tự thưởng cho mình quyền chống một cùi chỏ lên bàn và nhâm nhi vài ly bia trong quán bar. Hẹn gặp nhé Chile và Mũi Sừng để tôi hoàn thành chút đam mê kỳ lạ của một kẻ yêu xê dịch.

Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

Những bí ẩn về Tháp Chăm

Ngang dọc miền Trung rất nhiều lần và lần nào cũng thế … tháp Chăm luôn gợi cho tôi những cảm xúc khó tả. Và thành thói quen, cứ có dịp về miền Trung tôi lại tìm đến tháp Chăm, bắt chuyện với những người đang trùng tu tháp, hỏi thăm các vị lo việc hương sự để mong được khám phá phần nào những bí ẩn của tháp. Không ít lần như thế tôi lại ra về và mang theo một bí ẩn khác của những ngôi tháp hầu như không đổi màu trước thời gian.

Những viên gạch kỳ lạ

Với mắt thường thì đó chỉ là những viên gạch mà chúng ta vẫn thường gặp nhưng chúng là nỗi băn khoăn triền miên của nhiều nhà nghiên cứu tháp Chăm. Là chất liệu duy nhất tính bằng đơn vị dùng để xây tháp nhưng các viên gạch này mang trong nó quá nhiều bí ẩn. Cùng một kích thước nhưng những viên gạch được đúc thí nghiệm theo quy trình thủ công thông thường sẽ nặng hơn viên gạch Chăm cổ 1,3 lần. Độ bền chịu nén, độ dai va đập cùng những tính chất khác của gạch Chăm đều cao hơn gạch thông thường rất nhiều.

 
Khi tạt nước vào một mặt bất kỳ của viên gạch Chăm thì các mặt còn lại thoát nước ra gần hết (điều này không xảy ra đối với gạch xây dựng thông thường). Một hướng dẫn viên du lịch “sống” lâu năm với tháp Chăm Mỹ Sơn cho rằng nhiều viên gạch khi bị vỡ ra để lộ phần đất sống bên trong. Điều này có nghĩa gạch chỉ được nung chín đều phần bên ngoài, bên trong vẫn còn “sống”. Điều kỳ lạ là phần “đất sống” bên trong những viên gạch gãy vỡ qua thời gian dài, dù nằm ngoài trời, chịu mưa chịu nắng vẫn không bị rả ra. Vậy, thành phần của chúng ngoài đất sét ra còn có những gì? Quy trình sản xuất gạch có gì khác thường? Các viên gạch này có góp phần vào quá trình làm tháp Chăm nhanh khô ráo sau những cơn mưa dầm?

Một thứ hỗn hợp kết dính chưa rõ thành phần

Điều dễ nhận thấy là những viên gạch tháp Chăm như được dán chặt vào nhau vì giữa chúng không có một đường lằn chứng tỏ có sự diện diện của vôi vữa. Đến nay người ta vẫn chưa biết rõ về chất kết dính này? Thành phần của nó gồm những gì? Phương thức tạo ra nó như thế nào? Khi dùng kỹ thuật “dán” chặt những viên gạch lại bằng chất kết dính thì, ngoài mục đích làm tháp vững chắc người ta còn có mục đích gì khác? Vì sao phải cần loại hỗn hợp kết dính này mà không dùng vôi vữa để xây tháp?

Một loại hình nghệ thuật tạo hình “rất ít xuất hiện” ở Đông Nam Á”

Những hình trang trí ở tháp Chăm được tạo tác ngay trên gạch của thân tháp hoặc được đắp bằng sa thạch. Những hình tượng nghệ thuật sống động đó thể hiện một cách sinh động các nhân vật trong thế giới thần thoại Ấn. Điều này cho thấy sự tinh vi đến tuyệt diệu của nghệ thuật điêu khắc Chăm, đặc biệt là nghệ thuật tạo hình trên gạch.


Có phải các nghệ nhân Chăm thực hiện kỹ thuật chạm trổ khi các tường gạch đã xây xong? Nếu như thế, những sai sót mắc phải trong quá trình tạo tác được giải quyết như thế nào? Những nghệ nhân điêu khắc là người kiêm luôn công việc xây dựng hay có hai nhóm thực hiện hai công đoạn nối tiếp nhau: xây dựng và trang trí? Phù điêu, tuợng trên tháp được tạo tác như thế nào? Giữa hỗn hợp kết dính “bí ẩn” với nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật tạo hình Chăm có liên quan gì không?

Những khối gạch khổng lồ nhưng không bị nghiêng lún

Các tháp Chăm cao sừng sững nhưng dáng dấp thanh thoát; chỉ khi đến gần người ta mới thấy hết được vẻ đồ sộ của nó. Tháp hầu như là một khối đặc vì khoảng trống bên trong hầu như không đáng kể. Phần “ruột” của đa số các tháp chỉ vừa đủ chỗ cho một người hành lễ (một số tháp lớn thì bên trong cũng chỉ có một khoảng trống vừa đủ để người hành lễ đi một vòng quanh tuợng thần). Với chất liệu gạch và kiểu kiến trúc như thế chắc chắn sức nặng dồn lên nền móng là rất lớn. Thế nhưng các nhà kiến trúc Chăm đã xử lý móng như thế nào để giữ tháp đứng vững qua hàng trăm năm mà độ từ biến không biểu hiện ra ngoài thành sự cố nghiêng lún?

Những đền tháp qua hàng trăm năm bị thiên nhiên bào mòn nhưng không bị lộ chân móng?

Khu di tích thánh địa Mỹ Sơn nằm trong lòng chảo nên vấn đề này không khó lý giải. Riêng các tháp Chăm rải rác từ Bình Định đến Phan Thiết đều tọa lạc trên đồi cao nên chân móng của chúng đã đặt ra nghi vấn. Các ngôi tháp trên đồi này được xây dựng cách đây hơn năm trăm năm, thời kỳ các vị vua Chăm chuyển kinh đô từ Trà Kiệu vào Đồ Bàn. “Đất thánh của vương quyền Chămpa sau thế kỷ XIII có lẽ đã được dời vào vùng Đồ Bàn. Tuy nhiên vì tính chất đặc biệt quan trọng của nó, nên Mỹ Sơn hẳn không bị bỏ phế một cách đột ngột … sớm nhất cũng phải đến thế kỷ XV thì khu đất thánh này mới hoàn toàn bị bỏ hoang. Đó là lúc vương quyền Chămpa đã dời đô về miền Phan Rang”.


Qua mấy trăm năm trơ vơ giữa trời, hứng chịu biết bao trận mưa xối xả và những cơn gió mùa thổi tứ bề, chắc chắn đỉnh đồi phải bị bào mòn dữ dội, chân tháp theo đó cũng liên tục bị mài mòn, thế nhưng tháp Chăm vẫn không thấy dấu hiệu lộ ra chân móng. Phải chăng các nhà kiến trúc Chăm đã tính được độ lún của tháp theo thời gian để tháp không bị “tróc” ra khỏi ngọn đồi? Đều này khó có khả năng xảy ra vì trong xây dựng không ai dám phiêu lưu như thế? Vậy tháp Chăm “bình chân như vại” trên những đỉnh đồi bằng cách nào?

Một câu hỏi đặt ra từ kiểu dáng kiến trúc: Có phải Chăm pa đã từng giao lưu với phương Tây?

Có vài trụ chống đỡ trong số các tháp của di tích Mĩ Sơn có kiểu dáng của kiến trúc Hi – La, đó là kết quả tiếp xúc văn hoá Chăm với văn hoá phương Tây hay chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên? Nếu có sự tiếp biến giữa văn hoá Chăm với văn hoá Hy La thì đó là sự tiếp biến do giao lưu trực tiếp hay thông qua lăng kính của văn hoá Ấn Độ?

Vì sao người ta “sợ hãi, kiêng dè khi nói đến hay đi qua” Tháp Chăm?

Vào cuối thế kỷ thứ VI, Đàn Hoà Chí, một vị tướng nhà Đường đánh được vào Mỹ Sơn nhưng khi trở về thì bị điên. Trong đời sống dân gian hầu hết những câu chuyện kể liên quan đến tháp Chăm đều gieo nỗi ám ảnh và sợ hãi cho ngươi nghe.


Cho đến nay người ta vẫn còn sơ tháp Chăm: “người Jrai ở quanh khu vực này rất sợ Bang Keng. Người dân buôn Jú và những vùng phụ cận, gọi đó là yang sang ia - nhà của thần nước. Tin theo tín ngưỡng cổ truyền, không chỉ có những người thuộc lớp tuổi trên 50 mà ngay cả những người còn trẻ, có học vấn, nhận thức nhất định cũng đều sợ hãi, kiêng dè khi nói đến hay đi qua Bang Keng.

Nguyễn Duy Anh
Face DuyAnh Nguyen

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2013

Núi rừng Tây Bắc: Chuyến đi đến với Si-Ma-Cai

  Từ cao nguyên trắng Bắc Hà, ngược lên chưa đầy 30 km là đến với mảnh đất biên cương Si Ma Cai. Con đường như dải lụa vắt quanh triền núi đưa chúng ta đến vùng đất lưu dấu ngựa thần để khám phá những nét văn hóa rất riêng.



"Dập dìu sắc màu chợ phiên…"


Nét đặc trưng đầu tiên của Si Ma Cai đó là chợ phiên, chợ không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa, mà còn có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân nơi đây. Chợ phiên họp vào chủ nhật hàng tuần, bắt đầu từ sáng sớm cho đến tận chiều, là nơi diễn ra các hoạt động mua bán. Người đi chợ có khi chỉ mang 1 con gà, 1 con ngan, con lợn cắp nách, dắt theo sau là con chó hay ít lương thực, rau quả để bán, đôi khi cũng là vài ba cây mía, cái lồng chim…

Chợ phiên với rất nhiều mặt hàng được làm từ thổ cẩm

Những thiếu nữ Mông xuống chợ với xúng xính váy áo, cùng chiếc ô xòe rộng trên tay. Chợ phiên còn là dịp để phụ nữ Si Ma Cai có dịp khoe tài may vá, thêu thùa qua những sản phẩm thổ cẩm của mình. Sau khi bán hàng, họ mua những vật dụng cần thiết và thưởng thức các món ăn được bán ở chợ. Chợ là nơi trao tình bằng hữu, trao cái bắt tay rồi chạm chén bên nồi thắng cố dậy mùi và chia sẻ nỗi tâm giao.

Chợ phiên rất đa dạng hàng hóa từ nông sản, đố thủ công đến động vật

Chiều xuống, khi hoàng hôn phủ lên sườn non màu tím của núi rừng, vẳng đâu đây tiếng mõ trâu về bản, ấy là lúc các chàng trai vắt mình trên lưng ngựa để nàng "rước về dinh". Đó là hình ảnh thường thấy sau mỗi buổi chợ phiên và có lẽ chỉ vùng cao mới có.

Hương vị ẩm thực vùng cao

Nếu như Bắc Hà nổi tiếng với đặc sản rượu Bản Phố, thì Si Ma Cai có rượu Mản Thẩn, Sín Chéng cũng được xếp hạng và có thương hiệu riêng. Rượu Si Ma Cai được nấu bởi kỹ thuật truyền thống bao đời của đồng bào Mông, tạo nên sự tinh túy nhất trong hương vị rượu ở đây. 


Đến với Si Ma Cai, ai cũng muốn được thưởng thức các món ăn được chế biến từ thịt gà đen, theo cách gọi của dân bản là gà "okê". Loại gà này rất dễ phân biệt bởi lông đen tuyền, toàn bộ da, thịt và xương đều đen, gà thường được nuôi thả tự nhiên trên các triền đồi nên thịt rất thơm ngon. Thịt lợn hun khói cũng là món đặc sản của vùng cao Si Ma Cai. Loại thịt này có thể dự trữ lâu ngày, được chế biến cùng với món dưa cải cay thì thật thú vị. Si Ma Cai còn hút lòng thực khách bởi các món ăn ngon mang đậm bản sắc dân tộc, như xôi ngũ sắc, canh óc đậu…

Xôi ngũ sắc

Hãy thưởng thức các món nước khi đến với Tây Bắc

Những chảo thắng cố bốc hơi nghi ngút, thơm lừng chào mời. Món thắng cố nóng hổi được nấu từ thịt trâu hoặc thịt ngựa. Người ta chủ yếu ăn thắng cố là để thưởng thức nước canh và cảm nhận vị ngọt dậy mùi thơm của thảo quả, hoa hồi. Khi đến chợ và thưởng thức món thắng cố không thể không có rượu. Rượu Si Ma Cai được nấu từ ngô sau khi đã qua công đoạn thuỷ phân ngô hạt, sau đó ủ lên men trong thời gian dài. Nhờ sự cầu kỳ mà rượu ngô được rót ra trong vắt, thơm nồng, lăn tăn bọt, như vậy mới là rượu ngon. Rượu ngô cũng là một đặc sản được bày bán rất nhiều trong phiên chợ. Du khách đến chợ Si Ma Cai mà chưa được ăn món thắng cố và uống rượu ngô thì chưa hẳn là đã đến Si Ma Cai để cảm nhận sự độc đáo và lý thú của phiên chợ này.

Thắng cố là món ăn đặc trưng của người dân Tây Bắc

Bánh đúc cũng là một món ăn đặc biệt trong phiên chợ. Bánh làm từ bột đao hoặc bột ngô. Màu sắc của bánh đúc có thể trắng trong hoặc vàng tuỳ vào nguyên liệu để làm bánh là bột đao hoặc ngô. Trong những ngày nắng nóng, được ăn bánh đúc của người dân vùng cao với nước dưa chua, thêm gia vị tương ớt, đậu xị, rau mùi tàu thì càng ngon và có tác dụng giải khát, giải nhiệt rất tốt.

Món bánh đúc quen thuộc của người Mông

Nhà trình tường bên sườn non

Đối với người Mông ở Si Ma Cai, nói đến kiến trúc cổ xưa thì nhà ở cũng là một nét văn hóa còn giữ nguyên giá trị, đó là nhà trình tường đất phù hợp với đặc điểm khí hậu và địa hình ở đây. Nhà trình tường của người Mông Si Ma Cai được làm rất công phu. 


Theo truyền thống, thì từ tháng 10 -11 âm lịch, sau khi thu hoạch mùa xong, đồng bào Mông bắt tay vào làm nhà. Nhà trình tường ở Si Ma Cai có kiến trúc độc đáo, cột được làm bằng gỗ, mái lợp ngói, tường làm bằng đất nên mùa hè thì mát, mùa đông thì ấm. Khi công việc làm nhà bắt đầu thì cả thôn đến giúp hoặc làm đổi công, đây là thể hiện tinh thần đoàn kết và tính cố kết cộng đồng cao. Nhờ quy trình làm rất kỳ công nên nhà trình tường rất bền.

Lễ hội truyền thống

Các dân tộc ở Si Ma Cai có nhiều lễ hội thể hiện được bản sắc riêng của dân tộc mình, như Gầu Tào, xuống đồng và cúng rừng. Trong đó, cúng rừng là lễ hội thể hiện ý thức tâm linh và ý thức tôn trọng, bảo vệ thiên nhiên. Lễ cúng rừng đầu xuân là một trong những nghi lễ rất quan trọng nên đồng bào chuẩn bị chu đáo, cẩn thận.

Các nghi thức của buổi lễ hội Gầu Tào

Theo nghi lễ, sau khi cúng xong, trong 3 ngày sau đó người dân không được động thổ, dùng dao, cuốc, xẻng đào đất hay chặt bất cứ thứ cây gì, nếu vi phạm sẽ bị phạt rất nặng. Suy nghĩ này xuất phát quan niệm thần rừng rất thiêng và sẽ phù hộ, che chở cho người có cái tâm trong sáng và biết bảo vệ thiên nhiên. Đến Si Ma Cai hôm nay, ngay giữa trung tâm huyện là khu rừng với các loại cây xanh có tên "Rừng Cấm", đây là nơi thường diễn ra các lễ hội cúng rừng đầu năm.

Sau phần lễ sẽ là phần hội

Trong lễ hội thường có hát đối đáp nam nữ giao duyên, tỏ tình bằng hát ống, dùng khèn lá, đàn môi gọi nhau tâm sự. Trong các lễ hội này thường được các chàng trai thể hiện tinh thần thượng võ qua trò chơi võ đá. Lễ hội được tổ chức trên bãi sân rộng bằng phẳng tại các thôn, bản thu hút mọi người dân tham gia.

Tục cưới xin

Đám cưới ở đây theo tục lệ cổ truyền từ bao đời nay. Theo tục lệ kéo vợ của người Mông, sau 3 ngày kéo được vợ về thì đại diện gia đình nhà trai sang nhà cô gái xin cưới (nếu bố mẹ cô gái không tiếp thì đồng nghĩa với việc không đồng ý). 


Khi sang nhà gái, nhà trai đem theo một chai rượu, một gói thuốc lào và tự tay rót rượu, vê thuốc lào mời từng người trong gia đình cô gái. Lễ ăn hỏi thường được nhà gái yêu cầu gồm: Rượu và một đôi gà (một trống, một mái). Lễ cưới nhà trai chuẩn bị gồm: Tiền mặt (tùy từng gia đình), một con lợn, một chiếc ô. Đây là phong tục mang nét đặc trưng của dân tộc Mông ở Si Ma Cai còn được giữ đến ngày nay.


Ngày ngày qua đi, Si Ma Cai chuyển mình để bắt kịp với nhịp sống mới, nhưng con người và mảnh đất nơi đây vẫn còn giữ nguyên những nét văn hóa mang đậm sắc thái rất riêng của mình.

Nguyễn Duy Anh
Face: DuyAnh Nguyen